Bồi bổ mệnh môn hỏa và học thuyết Thủy Hỏa của Lãn Ông

2154 01/10/2018
Dadaypqa.com - Mệnh môn hỏa được ví như ngọn lửa trong đèn kéo quân nó nắm giữ sinh mệnh của con người. Lục phủ ngũ tạng xoay quanh nó....

Học thuyết Thủy - Hỏa theo Hải Thượng Lãn Ông

Về học thuyết này được nói rất rõ trong bài Bồi bổ mệnh môn thủy ở phần trước, các bạn có thể tìm hiểu kỹ hơn ở bài trước. Nhưng tôi vẫn xin nhấn mạnh và xin được phép nói lại về ngọn lửa trong đèn kéo quân.

Mệnh môn hỏa được ví như ngọn lửa trong đèn kéo quân nó nắm giữ sinh mệnh của con người. Lục phủ ngũ tạng xoay quanh nó.

Học thuyết đèn kéo quân

đèn kéo quân

Sách Y quán ví Mệnh môn với với cái đen kéo quân như sau: "Nào người lạy, nào người múa, nào người đi, nào người chạy, đều chỉ nhờ một ngọn lửa mà thôi. Lửa mạnh thì chuyển động nhanh, lửa yếu thì chuyển động chậm, lửa tắt thì muôn máy đều im lặng."

Người mắc bệnh là vì thủy hỏa không đều gây ra. Cái gọi là ‘hỏa có dư', thực sự là ‘chân thủy không đủ', khi trị liệu không nên ‘tả’ hỏa, mà chỉ lo bổ thủy để chế hỏa, tức là cái ý của Vương Băng ‘tráng thủy chi chủ, dĩ chế dương quang’ (chủ yếu lo thủy mạnh để chế ngực hỏa). Trái lại, nếu ‘hỏa không đủ' thì làm cho ‘thủy có dư', khi trị liệu cũng bất tất ‘tả’ thủy, mà chỉ lo bổ hỏa để hóa thủy, tức là cái ý của Vương Băng ‘ích hỏa chi nguyên, dĩ tiêu âm ế’ (lo tăng nguồn hỏa để triệt tiêu thủy).

 Tiên sư nói rằng: "Lấy phép chữa một bệnh mà suy rộng ra thì có thể chữa được trăm bệnh. Lấy phép chữa trăm bệnh, rút cục lại cũng như phép chữa một bệnh."

Hải Thượng Lãn Ông cho rằng, đối với người mà chân dương thịnh thì phải bổ âm, người chân âm thịnh thì phải bổ dương; tuy vậy khi bổ âm phải kèm theo vị bổ dương để không ảnh hưởng đến tỳ vị. Thông thường để bổ âm, Hải Thượng khuyên dùng phương lục vị; còn khi bổ nguyên khí củng cố chân hoả của thận thì dùng phương bát vị. Còn người âm dương đều hư thì ông khuyên dùng phương thập toàn đại bổ.

Ngoài ra, Hải Thượng đã vận dụng phép biến phương vào hai phương lục vị và bát vị để tạo ra tới hơn 50 phương thuốc khác nhau để trị rất nhiều loại bệnh tật trong cơ thể.

BÀI BÁT VỊ HOÀN

Công dụng bài "BÁT VỊ HOÀN"

Trước vua Vũ Hán Đế đời Hán bên Trung Hoa muốn làm thần tiên uống nhiều thuốc đơn sa, rồi phát sốt khát nhiều, uống nước nhiều tiểu nhiều. Ông Trương Trọng Cảnh (tên Hiệu Trường Sa) chế ra phương thuốc này để chữa bệnh của nhà vua được khỏe.

Bài thuốc:

- Thục địa...................... 8 gam

- Sơn thù......................... 4gam

- Hoài sơn..................... 4 gam

- Đơn bì........................ 3 gam

- Trạch tả ..............................  3  gam

- Bạch linh .............................  3. gam

- Nhục quế ............................  1. gam

- Phụ tử................................. 1  gam

Người gầy khí kém không thiết ăn uống, đại tiện phân lỏng, rốn và bụng hay đau, đêm đi tiểu nhiều, mạch hao mà yếu thiếu hoả suy kém, hoặc mạch bồng lên như đánh trống, hoả kém nhiều đờm. Ông Đan Khê có nói: Ốm lâu âm hoả bốc lên tân dịch sinh ra đờm mà không sinh ra huyết, bài thuốc này để dẹp tướng hoả thời đờm tự tiêu đi, những chứng âm thịnh ngăn cách khí dương bốc lên trên hay ở trong thật hàn mà ở ngoài giả nhiệt, thì nên dùng bài này để thêm nguồn gốc cho hoả mà tiêu râm tối đi. Sách dạy tu tiên có nói khe hai quả thận có một điểm chân tinh, tức là tướng hoả ở mệnh môn, nếu người ta không có hoả ấy thì ngừng mất nguồn sinh hoá, nếu không có vị Phụ Tử nó mạnh thì lấy gì để ấm cho dương khí.

Sách Tỉnh Yếu có nói rằng:

Bài Bát Vị này uống lâu người mạnh mà sinh con trai. Ông Trương Trọng Cảnh có nói người khí hư yếu mà có đờm uống bài Bát Vị này để bổ mệnh môn hoả thì trục được đờm, ông lại nói chữa chứng nước dềnh lên thành đờm, thì bài Bát Vị này là thánh dược. Ông Dịch Lão có nói: Bài Bát Vị này là phương thuốc để chữa hai phương về Tây và Bắc (kim và thuỷ) về chứng bệnh mạch háo mà hư yếu, hành Kim yếu thiếu hoả suy kém hay là mạch đặt tay vào thấy bồng lên như đánh trống uống bài này thì có công hiệu ngay.

Công hiệu của bài bát vị

Bệnh nặng thứ nhất là chứng phong, chứng lao, chứng cổ (bụng to lên), chứng cách (là bụng ngăn cách) thì uống bài Bát Vị này đều có thể khỏi thì còn lo gì các bệnh khác. Ông Trương Trọng Cảnh xem hình tượng quẻ Khảm (1 vạch liền ở khe giữa, 2 vạch đứt đôi) mới nghĩ ra bài thuốc này để bổ cả thuỷ hoả. Những vị Mẫu Đơn, Trạch Tả, Phục Linh, Hoài Sơn để đi theo với vị Thục Địa, Hoài Sơn có tính chất mềm, nhuận đi với Thục Địa để mạnh cho chơn thuỷ, vị Quế và Phụ Tử để bổ hoả trong thủy nên công dụng rất hay tạng Thận ghét ráo, tạng Tỳ lại ghét ẩm. Bài thuốc này giúp cả Thận và Tỳ.

Các bệnh chứng phần nhiều bởi thuỷ và hoả một bên hoả hơn lên những người hư yếu phần nhiều bởi khí huyết là bệnh từ trong khởi ra, nên phép chữa phải để ý thủy hỏa quân bình dùng bài Bát Vị này như bát trận đồ của nhà dùng binh đánh giặc trong vị thuốc bổ có vị thuốc để vơi đi nếu biết điều hòa để chữa bệnh thì công dụng không thể kể hết được. Nên Tiền Hiền có câu: nhà làm thuốc không biết đồ thái cực về tiên thiên thần diệu của thủy hỏa vô hình, mà không biết công dụng của bài Lục Vị và Bát Vị hai phương thuốc thần thì việc làm thuốc thiếu mất quá nữa. Bách bệnh phần nhiều bởi thủy hỏa mà hỏa bốc lên phần nhiều là hỏa hư yếu hỏa hư bởi ở tạng Thận, nếu nguyên khí ở tạng Thận xung túc thì tật bệnh không thể có. Người ta sống bởi thủy hỏa mà thận là gốc cho thủy hỏa nếu một bên hỏa hơn lên thì bách bệnh sinh ra nếu phép chữa cứu chân âm không gì bằng mạnh cho chơn thủy, bổ cho chơn dương không gì bằng thêm cho chơn hỏa, hai quả thận là căn bản của thủy hỏa dù tỳ vị hư về hàn cũng phải để ý đến tạng Thận, nên bài Bát Vị thêm vị Phá Cổ Chỉ và Ngũ Vị Tử. Ngoài ra không cứ chứng nội thương, chứng ngoại cảm, chứng thai tiền sản hậu, nhãn khoa hay nha khoa, chứng âm hư hay dương hư mà giả âm hay giả dương (tức là giả hàn, giả nhiệt) đều có thể dùng bài này. Ta chỉ biết khí dư ra là hỏa mà không biết hỏa dư ra là khí. Ăn uống khí trệ thì dùng thuốc nhuận đi, còn như dương khí bốc vượt lên phải liễm nạp trở xuống mà dùng thuốc bổ để tiêu, khi ấy nếu dùng thuốc cay thơm và ráo để nhuận xuống thì tân dịch càng ráo dùng những vị thuốc đồng khí như Xuyên Khung, Đương Quy, Trần Bì cũng phải kiêng.

Ý nghĩa bài bát vị

Trong bài Bát Vị vừa bổ vừa tả mà đủ cả âm dương, Nhục Quế và Phụ Tử để bổ hỏa trong thủy, nhưng phải có 6 vị tính chất là âm để trở xuống thời dù vị Nhục Quế có nóng, vị Phụ Tử có mạnh cũng chỉ có lợi mà không có hại.

Ông Trương Trọng Cảnh: Chữa chứng hàn về kinh khí âm có nhiều thuốc dùng đến vị Phụ Tử vì chứng hàn tà trúng thẳng vào âm kinh không có vị Phụ Tử cay và nóng thì không thể đuổi hàn được. Sở dĩ bài Bát Vị còn gọi là (Thận Khí Hoàn) là vì phương thuốc này chủ chữa về thiếu âm thận kinh còn vị Nhục Quế gặp thuốc bổ khí hay bổ huyết thời ôn và tản đi còn gặp thuốc bổ âm thời ôn cho âm phận.

Ông Tiết Trai có nói: Chỉ có vị Nhục Quế và Phụ Tử ở trong bài thuốc Bát Vị thời bổ thận còn các vị thuốc khác trong bài thuốc có vị Thục Địa, Sơn Thù là thánh dược để bổ chơn âm thêm Hoài Sơn, Phục Linh giúp cho tạng Phế vị Đơn Bì để trừ nóng ngầm trong âm phận. Người thường phần nhiều dùng vị Hoàng Bá để chữa tướng hỏa mà không biết công dụng của vị Đơn Bì còn bội hơn Hoàng Bá, vị Trạch Tả cùng với vị Phục Linh để thấm và dẫn xuống riêng vị Trạch Tả để vơi nhẹ đi thời không thể được. Cho nên dùng vị Phục Linh để giáng dương trong âm dùng vị Trạch Tả để giáng âm trong dương.


Tags: menh mon hoa, thuy hoa, thuy hoa tien thien,

Loading...

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan