Ngũ tạng trong cơ thể người theo đông y

7147 26/09/2018
Dadaypqa.com - Thuyết tạng phủ là một thuyết trong hệ thống lý luận của y học cổ truyền,chỉ ra hình tượng và hình thái tạng phủ của con người dựa trên quan niệm chỉnh thể thông qua hệ thống kinh lạc, đem các tổ chức, các bộ phận toàn thân liên kết thành một khối chỉnh thể hữu cơ....

 CÁC TẠNG TRONG CƠ THỂ CON NGƯỜI THEO ĐÔNG Y

      Thuyết tạng phủ là một thuyết trong hệ thống lý luận của y học cổ truyền,chỉ ra hình tượng và hình thái tạng phủ của con người dựa trên quan niệm chỉnh thể thông qua hệ thống kinh lạc, đem các tổ chức, các bộ phận toàn thân liên kết thành một khối chỉnh thể hữu cơ.

các tạng trong cơ thể con người

Thuyết ngũ tạng trong đông y

Tạng chỉ các cơ quan có chức năng tàng trữ,quản lý các hoạt động chính của cơ thể.Có ngũ tạng: tâm, ca, tỳ, phế, thận.

Phủ chỉ các cơ quan có khả năng thu nạp chuyển giao và truyền tống cặn bã.Có 6 phủ chính(lục phủ): vị, đởm, tiểu tràng, đại tràng, bàng quang, tam tiêu.Ngoài ra còn một số phủ khác(phủ kỳ hằng): não, tử cung....

Ngũ tạng trong cơ thể

I. Tạng Tâm

 Tâm là tạng quan trọng nhất,là quân hỏa,là trung tâm những hoạt động sống của cơ thể.Tâm nằm trong lồng ngực,biểu hiện một số chức năng:

âm dương ngũ hành

Tâm

Tâm chủ huyết mạch,tâm quản về huyết mạch:tâm làm đầy chắc huyết mạch.Trước hết phải nói đến quan hệ mật thiết của tâm huyết và mạch.Mạch là đường dẫn huyết được phân bổ khắp cơ thể.Huyết có tác dụng dinh dưỡng toàn thân.Tâm và mạch đóng vai trò tuần hoàn huyết dịch,thông qua đó huyết được vận hành thông suốt tam tiêu.Chức năng tâm chủ huyết mạch tốt thể hiện mặt hồng nhuận sáng sủa,da dẻ tưởi nhuận.Chức năng này kém thì sắc mặt xanh xao,xám héo,môi thâm.Chức năng này có liên quan đến các loại thuốc hành huyết,hành khí,bổ âm,bổ huyết.

Tâm tàng thần:thần là biểu hiện tổng hợp của mọi hoạt động tinh thần,trí tuệ ý thức,tri thức của con người.Thần là biểu hiện tư duy,sinh lý của võ não.Chức năng tâm tàng thần tốt biểu hiện ra sự thông minh hoạt bát,và ngược lại tâm không tàng được thần,sẽ xuất hiện các chứng hay quên,tư duy kém,mất ngủ,mệt mỏi...Chức năng tâm tàng thần có liên quan mật thiết với tâm chủ huyết mạch.Nếu tâm huyết bất túc(không đầy đủ) thì ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của tinh thần....Khiếu mắt là biểu hiện của thần.Thần chí tốt,mắt trong sáng tinh tường,nhanh nhẹn;thần chí kém mắt lờ đờ chậm chạp.Nhìn mắt của bệnh nhân,có thể tiên lượng được khả năng tiến hóa của bệnh vì biết được thần chí của họ diễn biến như thế nào?Những loại thuốc liên quan đến chức năng tàng thần của tâm như thuốc trấn tâm an thần,gây ngủ,thuốc bổ huyết bổ âm,...thuốc khai khiếu tinh thần.

Tâm chủ hãn:hãn là mồ hôi,là sản phẩm thanh học của chất tâm,được thải qua tấu lý(lỗ chân lông).Các bệnh về hãn:tự hãn(tự ra mồ hôi),đạo hãn(mồ hôi trộn),vô hãn(không có mồ hôi) đều liên quan đến tạng tâm.Chức năng tâm chủ hãn có liên quan đến chức năng tàng thần.Khi tâm không tàng được thần thì mồ hôi tự vã ra.Đó là trường hợp khi con người đứng trước một sự việc khá kinh khủng;hoặc khi trúng phong,trúng thử thần chí bị hôn me thì mồ hôi cũng tự vã ra.Thuốc lá liên quan đến tâm chủ hãn đó là thuốc liễm hãn cố sáp,cố biểu,thuốc an thần.

Tâm khai khiếu ra lưỡi:lưỡi là sự thể hiện ra bên ngoài của tâm.Nhìn thể chất,màu sắc của lưỡi biết được tình trạng của tâm.Chất lưỡi mềm mại,sắc hồng nhuận,nói năng hoạt bát là biểu hiện của trạng thái tâm tốt.Ngược lại chất lưỡi nhợt nhạt,lưỡi cứng hoặc lệch,nói ngọng hoặc không nói được là biểu hiện của tâm tàng thần kém.Tâm nhiệt chất lưỡi và đầu lưỡi đỏ.Tùy theo từng chứng cụ thể có các loại thuốc riêng.

Một số bệnh liên quan đến tạng tâm:

- Tâm huyết  bất túc:huyết thiếu,tim đập nhanh biểu hiện hay quên,mất ngủ,ngủ hay mộng,da xanh xao,lưỡi trắng nhợt,thân nhiệt thường hạ,nên dùng thuốc bổ huyết an thần.

- Tâm dương hư:biểu hiện tim đập nhanh(tâm quý) khí đoản(hơi thở ngắn) hoặc khó thở,mặt trắng bệch,lưỡi nhợt nhạt,môi tím tái;hoặc mạch vị,tế sợ lạnh hoa mắt chóng mặt.Nên dùng thuốc dưỡng tâm an thần.Tâm huyết ứ trệ:đau vùng tim,tim đập nhanh,mặt môi,móng tay thâm tím.Nên dùng thuốc hành khí,hành huyết,....

- Tâm hỏa vượng:mặt đỏ,miệng đắng,niêm mạc miệng lưỡi phồng rộp,đầu lưỡi đỏ,tiểu tiện nóng đỏ,lòng bàn tay,bàn chân nóng...Nên dùng thuốc thanh nhiệt, kiêm lợi thủy,an thần.

II. Tạng Can

Về giải phẩu học tạng can của y học cổ truyền được coi như gan,song về chức năng lại được thể hiện như sau:

bồi bổ can thận

Gan

Can tàng huyết:Can là kho dự trữ huyết và điều tiết huyết cho cơ thể.Khi cơ thể ở trạng thái hoạt động phần lớn huyết được chuyển từ can tới tận tế bào,cung cấp dinh dượng cho hoạt động sống của tế bào.Khi nghỉ ngơi,khi nằm,khi ngủ,đại bộ phận huyết được trở về can.Nếu huyết không thu về can được sẽ xuất hiện triệu chứng bồn chồn,mất  ngủ.Chức năng can tàng huyết tốt,cơ thể khỏe mạnh hồng hào do huyết sung túc,chức năng can tàng huyết kém cơ thể xanh xao,mệt mỏi,miệng trắng giã.Các loại thuốc liên quan đến chức năng này là thuốc bổ huyết,bổ âm,hoạt huyết hành khí.

Can chủ cân:cân tức là gân,bao cơ,khớp,dây chằng...Can chủ cân kém,xuất hiện gân co duỗi khó khăn,các hệ thống dây chằng sa giãn,đi lại khó khăn,teo nheo cơ.Trẻ em chậm biết đi hoặc không đi được.Các loại thuốc có liên quan đến chức năng can chủ cân là thuốc bổ can thận,bổ huyết.

Can chủ sơ tiết:trước hết là nói đến chức năng sơ tiết mật,men của gan.Chức năng can chủ sơ tiết tốt sẽ giúp cho việc tiêu hóa của tỳ vị được tốt.Chức năng này kém sẽ dẫn đến bụng chướng đầy,ăn uống không tiêu,các chứng hoàng đản(vàng da),hoặc sườn ngực đầy tức,phụ nữ bế kinh hoặc rối loạn kinh nguyệt.Thuốc có liên quan đến chức năng này là thuốc sơ cản giải uất,hành khí,hành huyết lợi mật.

Can chủ nộ:can chủ về tính giận về tính nóng nảy cáu gắt.Ngược lại hay cáu giận hại can.Chức năng can chủ nộ liên quan mật thiết với chức năng chủ sơ tiết và can tàng hồn.Can không chủ được nộ sẽ dẫn đến việc sơ tiết của can kém đi,đồng thời ảnh hưởng nhiều đến những hoạt động tinh thần mà xuất hiện triệu chứng ngủ không yên giấc,nặng thì sẽ dẫn đến một số bệnh tinh thần.Các loại thuốc liên quan là thuốc an thần gây ngủ,bình can tiềm dương,trọng trấn an thần,sơ can giải uất...

Can khai khiếu ra mắt:Khí của can được biểu hiện ra ở mắt.Khí của can tốt thì thị lực tốt,ngược lại mắt mờ,thị lực suy giảm.Nhìn vào mắt biết được trạng thái của can.Nếu mắt khô sáp,thâm quầng là can huyết bất túc,đỏ do sung huyết là can hỏa thịnh,mắt vàng(âm hoàng và dương hoàng) là can nhiệt,mắt trắng dã là can huyết hư.Chức năng này liên quan mật thiết đến chức năng can tàng huyết,tàng hồn và can chủ sơ tiết.Thuốc có liên quan:thuốc bổ huyết nếu can bất túc,thuốc sơ can giải uất,lợi mật,thuốc thanh nhiệt táo thấp(táo thấp,lương huyết...) thuốc bổ âm,bổ thận.

Một số bệnh về can:

- Can khí uất kết:thể hiện hai bên sườn đau tức,đau lồng ngực,đau bụng,phụ nữ kinh nguyệt không đều,viêm gan mạn tính,nên dùng thuốc sơ can giải uất,hành khí hành huyết.

- Can đởm thấp nhiệt:da vàng tiểu tiện vàng đỏ,sườn đau căng,phụ nữ khí hư bạch đới.Nên dùng thuốc thanh nhiệt táo thấp,giải độc,lợi thấp

- Can phong nội động:ngã đột ngột,thậm chí hôn mê bất tỉnh,bán thân bất toại,miệng mắt méo xệch...Các chứng động kinh,bệnh lý(histeria) cũng thuộc loại chứng bệnh này.Nên dùng thuốc bình can tắt phong hoặc trọng trấn an thần,sơ can giải uất...

- Can hỏa thượng viêm:đầu đau căng,mắt đỏ,miệng đắng,lưỡi hồng,hay chảy máu cam(nục huyết).Nên dùng thuốc thanh nhiệt hay giải biểu nhiệt chỉ huyết.

III.Tạng Tỳ

 Tỳ là cơ quan có chức năng tiêu hóa dinh dưỡng.Như vậy nếu theo chức năng của tỳ mà suy rộng thì tỳ bao gồm những cơ quan mang chức năng chứa đựng như vị(dạ dày) hấp thu như tiểu tràng,chức năng truyền tống như đại tràng,một số tuyến giúp cho tiêu hóa như tuyến nước bọt,tuyến tụy...Một số chức năng của tỳ:

Tỳ ích khí sinh huyết:Tỳ có chức năng ích khí(làm giàu phần khí),tức đóng vai trò tạo nguồn năng lượng cho cơ thể.Tỳ có vai trò tạo khí hậu thiên,khí lấy từ nguồn thủy cốc dinh dưỡng để cung cấp cho mọi hoạt động của ngũ tạng,lục phủ...Tỳ khỏe mạnh,nguồn khí được cung cấp dồi dào khiến cho cơ thể khỏe mạnh,chức năng này kém người mệt mỏi do chân khí kém,đoản hơi,vô lực,da xanh xao vì huyết hư.Loại thuốc có liên quan: thuốc hành khí,bổ huyết.

Tỳ chủ vận hóa:Tỳ chủ vận hóa bao hàm ý nghĩa tiêu hóa,vận  hóa tinh hoa của thủy cốc(thành phần dinh dưỡng của thức ăn) và vận hóa nước trong cơ thể.Thức ăn sau khi được tiếp thu ở vị,qua quá trình vận hóa biến thành các chất dinh dưỡng,chuyển tải đến tâm phế,thông qua kinh mạch tới toàn thân để nuôi dưỡng cơ thể.Mặt khác bộ phận thủy dịch trong cơ thể cũng hấp thu ở tỳ được tỳ vận hóa(tỳ vận hóa nước),cũng chuyển tải đến phế thận,bàng quang góp phần duy trì sự cân bằng về chuyển hóa nước trong cơ thể.Nếu chức năng này được điều hòa.Nếu chức năng này kém thì chức năng dinh dưỡng của cơ thể bị thiếu;đồng thời xuất hiện những chứng trạng phù nề đặc biệt phù ở bụng,phù của sự thiếu albumin;phù của tình trạng cơ thể đói cũng có khi xuất hiện tiết tả.Thuốc có liên quan: thẩm thấp lợi niệu,tiêu đạo...

Tỳ chủ nhiếp huyết:chức năng này chỉ rõ khả năng thu gọn huyết lưu thông trong lòng mạch.Chức năng này tốt,huyết vận hành thông suốt trong mạch.Ngược lại tỳ hư huyết loạn,huyết tràn ra ngoài lòng mạch(tức bị xuất huyết).Do vậy khi có các triệu chứng xuất huyết nói chung trong cơ thể,cần quan tâm đến chức năng này của tỳ.Thuốc liên quan: thuốc bổ huyết bổ âm....

Tỳ chủ về chân tay,cơ nhục:tỳ khỏe cơ nhục nở nang béo tốt,hồng nhuận;Tỳ yếu cơ thể gầy,chân tay cơ nhục teo nhẽo,trẻ em chậm biết đi,suy dinh dưỡng,còi xương.Những người bị bại liệt đều dẫn đến cơ nhục teo nhẽo,cũng cần được quan tâm điều trị tạng tâm.Các loại thuốc có liên quan: thuốc bổ huyết,bổ âm,bổ dương,...

Khí tỳ chủ thăng(khí tỳ hướng lên trên,lên thượng tiêu):Ở cơ thể khỏe mạnh,tỳ khỏe mạnh,khí tỳ luôn luôn hướng lên trên,có tác dụng giữ cho các phủ tạng trong cơ thể ở vị trí tự nhiên của nó.Nếu khí tỳ bị hư,trung khí bị hạ và giảm xuống hạ tiêu,làm xuất hiện chứng sa giáng.Ví dụ sa gan,sa tử cung,lá lách,thoát giang(lòi dom)....Do vậy y học cổ truyền thường dùng các thuốc kiện tỳ ích khí,đặc biệt khí trung tiêu,gia thêm các vị thuốc mang tính chủ thăng đặc hiệu như thăng ma sài hồ,để nâng các tạng phủ bị sa về vị trí ban đầu.Thường dùng bài bổ trung ích khí để chữa các triệu chứng này.Các loại thuốc liên quan đến chức năng này là thuốc tiêu đạo,thuốc hành khí

Tỳ khai khiếu ra miệng:Sự thể hiện của tạng tỳ ra ở miệng,tỳ khỏe,miệng muốn ăn,ăn biết ngon,biết đói,tiêu hóa tốt.Tỳ yếu thể hiện chán ăn,ăn không ngon miệng,ăn không tiêu,bụng hay đầy trướng.Những thuốc liên quan:thuốc hành khí,tiêu đạo.

Một số  bệnh lý của tỳ:

- Khí tỳ hư nhược biểu hiện kém ăn,hấp thu kém,người gầy,da xanh vàng,đại tiện thường lỏng,bụng trướng đầy hoặc xuất hiện các chứng sa như thoát giang, trĩ....Nên dùng thuốc hành khí,tiêu đạo

- Tỳ dương hư:ăn uống kém,bụng sôi,trướng đầy,đại tiện lỏng,chân tay lạnh đôi khi co quắp,thân thể nặng nề,phù thũng.Nên dùng thuốc kiện tỳ kiêm bổ dương,thuốc hóa thấp.

- Hàn thấp khốn tỳ:bụng ngực đầy,trướng không muốn ăn,đầu nặng,toàn thân mệt mỏi đau ê ẩm,đại tiện lỏng.Nên dùng thuốc hóa thấp kiêm hành khí.

- Tỳ thấp nhiệt:biểu hiện vàng da,bụng đầy trướng không muốn ăn,đại tiện táo kết,tiểu tiện vàng đỏ....Nên dùng thuốc thanh nhiệt táo thấp,lợi thủy,nhuận tràng.

IV.Tạng Phế

 Phế giống như cái lọng,mày hồng nằm trong lồng ngực.Về mặt giải phẩu học,phế chính là hai lá phổi.Tuy nhiên về chức năng,phế biểu hiện như sau:

bồi bổ gan thận

Phổi

Phế chủ khí:Phế có chức năng hô hấp đóng vai trò tiếp nhận dưỡng khí(khí trời) sau đó diễn ra quá trình khí hóa(quá trình trao đổi thải thán khí và hấp thụ dưỡng khí,tức là quá trình kết hợp oxy với hemoglobin và thải khí carbonic).Như vậy phế chủ việc cung cấp dưỡng khí cho các tạng và các tổ chức trong cơ thể.

Phế trợ tâm,chủ việc trị tiết:Trị tiết là quản lý rành mạch sự hoạt động có quy luật của tạng phủ,đồng thời giúp tâm tàng thần tốt.

Phế hợp bì mao:Tức phế có công năng đóng mở tẩu lý(lỗ chân lông) ở da;chữ hợp chỉ chức năng đóng tẩy lý.Bình thường chân lông đóng mở để điều tiết thân nhiệt và thải trừ cặn bã của sự vận chuyển mồ hôi.Khi lạnh lỗ chân lông đóng lại,khi nóng thì mở ra.Sự đóng mở đó được  phế chi phối.Chính vì vậy công năng của phế có liên quan đến da và lông.Nếu khí phế sung túc thì quá trình đóng mở nói trên được tiến hành bình thường.Ngược lại có yếu tố ngoại tà(hàn tà,nhiệt tà) xâm phạm vào cơ thể thông qua tấu lý sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến phế,gây ra các chứng phế hư hoặc phế thực,làm cho cơ thể mắc các chứng ho,đờm,suyễn tức....và ngược lại chứng những bệnh từ tạng phế cũng ảnh hưởng trực tiếp đến khai hợp tấu lý ở phần biểu.Bệnh viêm phế quản mạn tính do khí phế kém,lâu ngày tấu lý thường thô to,lỗ chân lông thường xuyên giản mở làm cho mồ hôi nhiều,da thô.Thuốc có liên quan:thuốc giải biểu,chỉ ho,hóa đờm,bình suyễn,thuốc bổ khí.

Phế chủ thông điều thủy đạo:Phế có chức năng điều tiết phần thủy dịch thống suốt trong cơ thể,liên quan đến chức năng tỳ vận hóa nước.Phế được coi là nguồn nước trên giúp cho thận thủy thanh lọc được bình thường.Nếu chức năng này kém thì cũng dẫn đến việc điều hòa thủy đạo trì trệ gây ứ đong nước,dẫn đến phù nề.Thuốc có liên quan:thuốc kiện tỳ,lợi thủy thẩm thấp,hóa đờm chỉ ho.

Khí phế chủ túc giáng:Phế có chức năng điều tiết phần thủy dịch thông suốt trong cơ thể,liên quan đến chức năng tỳ vận hóa nước.Phế được coi là nguồn nước trên giúp cho thận thủy thanh lọc được bình thường.Nếu chức năng này kém dẫn đến việc điều hòa thủy đạo trì trệ gây ứ đọng nước,dẫn đến phù nề.Thuốc có liên quan:thuốc kiện tỳ,lợi thủy thẩm thấp,hóa đờm,chỉ ho.

Khí phế chủ túc giáng:Khí phế luôn có khuynh hướng đi xuống dưới,giúp cho chức năng thông điều thủy đạo.Nếu khí phế đi lên(khí phế thượng nghịch),gây ra các chứng ho ,hen,suyễn tức.Thuốc có liên quan:thuốc hành khí,hạ khí,thuốc chỉ ho,bình suyễn,hóa đờm.

Khí phế chủ thanh:âm thanh tiếng nói của con người được ảnh hưởng trực tiếp bởi khí của phế.Khí phế tốt tiếng nói khỏe mạnh,khí phế kém tiếng nói trầm khàn,yếu ớt hoặc nói không ra tiếng.Trường hợp bị câm bẩm sinh ngoài nguyên nhân não cũng nên lưu ý đến nguyên nhân khí phế chủ thanh.

Phế khai khiếu ra mũi:trạng thái của phế được thể hiện ra đường mũi.Phế tốt hơi thở qua mũi nhịp nhàng,phế nhiệt hơi thở qua mũi nóng,mũi đỏ...Phế tắc cách,mũi nhập phồng,phế hư hơi thở ngắn(đoản khí cách mũi xẹp,hay thở dài.Có các loại thuốc thích hợp theo từng chứng cụ thể.Ví dụ phế nhiệt dùng thuốc thanh nhiệt,tân lương giải biểu...

Một số bệnh về phế:

- Phong tà nhập thể:Cơ thể biểu hiện sợ lạnh,sốt cao,đau đầu,ho,sổ mũi,đau toàn thân.Nên dùng thuốc giải biểu kiêm chỉ ho.

- Phế âm hư:ho,ít đờm,trong đờm có tia máu,lưỡng quyền huyết,sốt về chiều nóng âm ỉ trong xương.Nên dùng thuốc bổ âm,kiêm chỉ ho,hóa đờm chỉ huyết.

- Đờm phế thấp nhiệt:ho,suyễn đờm đặc,vàng,mùi hôi,đau ngực,sốt.Nên dùng thuốc hóa đàm hàn chỉ ho bình suyễn,thuốc thanh nhiệt...

- Khí phế hư:ho nhiều,đờm nhiều mà loãng,đoản hơi.ra nhiều mồ hôi,tiếng nói yếu,người mệt mỏi.Nên dùng thuốc bổ khí,chỉ ho,hóa đờm,thuốc cố biểu liễm hãn...

V.Tạng Thận

 Thận là một trong ngũ tạng được y học cổ truyền đánh giá cao,là một thái cực trong nhân thể.Là vị trí tướng hỏa sau tâm là quân hỏa.Trạng thái con người như thế nào phần lớn do thận quyết định.Thận có chức năng tác cường,sự khôn khéo,sáng tạo.Về giải phẫu,thận là hai quả thận như quan niệm của y học hiện đại.Một số chức năng của thận:

 

âm dương ngũ hành

Thận

Thận tàng tinh:tinh tiên thiên có sẵn trong bào thai,có nguồn gốc từ cha mẹ,trong đó có tinh sinh dục.Tinh hậu thiên có nguồn gốc từ dinh dưỡng là tinh hoa của thủy cốc.Sau khi nuôi dưỡng cơ thể,phần dư thừa được tích ở thận.Như vậy không những thận tàng tinh của bản thân nó mà còn tàng tinh của lục phủ ngũ tạng.Chức năng này tốt cơ thể khỏe mạnh,hoạt động hoạt bát dẻo dai,sống lâu.Chức năng này kém cơ thể mệt mỏi,sinh lý giảm hoặc vô sinh...Thuốc có liên quan:thuốc bổ thận âm,thuốc bổ thận dương,thuốc bổ âm...

Thận chủ cốt sinh tủy:Thận chủ về xương cốt,liên quan đến sự khỏe mạnh hoặc bệnh tật của xương cốt.Các bệnh về xương như đau khớp đau cốt,đau lưng,đau răng đều liên quan đến thận.Thận sinh tủy,tủy tạo huyết,tủy dưỡng cốt,cốt và tủy liên quan mật thiết.Do vậy các bệnh về tủy(suy tủy,lao tủy...)về huyết(huyết hư) cần nghỉ tới tạng thận,dùng thuốc vào thận.Mặt khác tủy có liên quan đến não,"não vi tủy chi hải" não là bể của tủy-ý nói tủy là một phần rất nhỏ của não sinh ra;do vậy thận và não có liên quan mật thiết.Điều đó có nghĩa là khi chữa bệnh não cũng cần nghĩ tới thận và ngược lại.Các loại thuốc liên quan:thuốc bổ thận âm,bổ thận dương,bổ huyết....

Thận chủ thủy:Thận chủ về điều tiết thanh lọc phần nước trong cơ thể.Phần cặn bã được dồn xuống bàng quang.Chức năng này có liên quan đến chức năng chủ túc giáng,thông điều thủy đạo của phế,ở đây thận đóng vai trò"nguồn nước dưới",mặt khác cũng liên quan đến chức năng"vận hóa hóa" của tỳ,"chủ huyết mạch" của tâm.Nếu chức năng này kém này sẽ gây ra ứ đọng nước trong cơ thể làm cho người bị phù nề,phế bị chèn ép,gây  khó thở.Vì vậy muốn chức năng này tốt,khí phế phải thông,các loại thuốc liên quan:thuốc thẩm thấp lợi niệu,thuốc hóa đàm,chỉ ho bình suyễn.

Thận chủ nạp khí:thận đóng vai trò hô hấp ở giai đoạn đưa không khí vào nạp(nạp khí).Thận chủ nạp khí kém gây khó thở,đoản hơi,bình suyễn.Như vậy chức năng này có liên quan mật thiết đến chức năng chủ khí của phế.Trên thực tế,đó là mối quan hệ giữa hormon này có tác dụng làm giãn cơ trơn của khí phế quản.Ở nồng độ nhất định nó giúp cho cơ trơn nói trên thư giãn bình thường,để thông khí vào phế dễ dàng(thận chủ nạp khí).Khi mắc bệnh phế lâu ngày,cơ trơn khí phế quản co thắt nhiều làm cho hormon trên bị tiết ra quá mức,do vậy mà chức năng thượng thận kém đi.Vì vậy mà phải cố thận kiêm thanh phế.Thuốc có liên quan:thuốc bổ thận dương,bổ khí,hóa đờm,bình suyễn.

Thận chủ mệnh môn:Mệnh môn chỉ tướng hỏa,long hỏa hàm ý chỉ thận dương,tạo ra sức nóng cho cơ thể duy trì thân nhiệt hằng định 37 độ,Nếu chức năng này kém,chân tay lạnh sợ gió,sợ nước thân nhiệt thường thấp hơn 37 độ.Thận dương cung cấp sức năng cho tỳ dương(thận dương ôn hóa tỳ dương).Nếu chức năng này kém,không ôn hóa tùy dương sẽ dẫn đến đầy bụng,sôi bụng tiết tả và thường mắc bệnh ngũ canh tả-đi tả vào canh thứ 5(tương đương với bệnh viêm đại tràng mạn),kèm theo đó là tiêu hóa bất chấp,kém ăn.Thuốc có liên quan:thuốc bổ thận dương,thuốc hóa thấp,ôn trung,thuốc kiện tỳ,tiêu đạo.

Thận khai khiếu ra tại và nhị âm(tiền âm,hậu âm):sự thể hiện của thận ra tai và nhị âm:thận khí kém tai ù,kém quá tai điếc.Người già hay ù tai,điếc tai là do thận khí kém.Do vậy thính lực kém phải chữa thận.Mặt khác thận kém còn biểu hiện tiểu tiện bí dắt hoặc không cầm được,tiểu dầm,di tinh...hoặc đại tiện lỏng hoặc táo kết....Thuốc có liên quan đến chức năng này:thuốc phương hương khai khiếu,thuốc bổ thận,thuốc cố tinh sáp niệu.

Một số bệnh lý về thận:

- Thận dương hư nhược:lưng đau,đầu gối đau,chân lạnh,tảo tiết,liệt dương,vô sinh.Nên dùng thuốc bổ thận dương kiêm bổ khí

- Thận âm bất túc:tai ù,đau đầu,mờ mắt ra mồ hôi trộm,tiểu tiện đục.Nên dùng thuốc bổ âm kiêm liễm hãn lợi niệu

- Thận khí hư:đau lưng,chân tay vô lực,tiểu nhiều,tiểu dầm,di tinh,đoản hơi,suyễn tức.Nên dùng thuốc bổ dương,bổ khí,thuốc cố tinh sáp niệu.

Lưu ý: Bài viết chỉ có tính chất tham khảo


Tags: ngu tang, tang phu, thuyet tang phu, am duong ngu hanh, dong y,

Loading...

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan