Một số bài thuốc trị bệnh từ Hoa hòe

47 25/09/2019
Dadaypqa.com - Hoa hoè (còn gọi là hoè mễ): có vị đắng, tính bình, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt và cầm máu, có tác dụng chữa các bệnh ho ra máu, đổ máu cam, tiểu tiện, đại tiện ra máu, chảy máu cam, phụ nữ bị băng huyết, nâng cao sức bền thành mạch, làm chậm quá trình xơ vữa động mạch...

HOA HÒE

Bài thuốc từ hoa hòe

Đặc tính công dụng của hoa hòe

Công dụng: giảm cholesterol trong máu.

Hoa hoè là nụ hoa hay còn gọi là hoè mễ, hoè hoa mễ hay hoè hoa, tên khoa học là Stypnolobium japonicum (L.) Schott. Hoa hoè nở vào các tháng 7,8, 9. Còn hoè giác là quả chín của cây hoè. Từ lâu đời hoa hoè đã được dùng trong y học cổ truyền.

Hoa hoè (còn gọi là hoè mễ): có vị đắng, tính bình, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt và cầm máu, có tác dụng chữa các bệnh ho ra máu, đổ máu cam, tiểu tiện, đại tiện ra máu, chảy máu cam, phụ nữ bị băng huyết, nâng cao sức bền thành mạch, làm chậm quá trình xơ vữa động mạch, tăng cường sức co bóp cơ tim, kháng khuẩn và chống viêm loét, hạ huyết áp, hạ mỡ máu, lợi tiểu, chống co thắt cơ trơn ở đường ruột và phế quản, gây hưng phấn nhẹ, chống phóng xạ.

Hòe mễ chứa nhiều ru-tin - một chất làm bền thành mạch - được dùng cầm máu trong các trường hợp xuất  huyết đề phòng tai biến do mạch máu bị xơ vữa, giòn, dễ vỡ, được dùng điều trị bệnh cao huyết áp. Liều dùng 5-20g mỗi ngày dưới dạng thuốc sắc.

Hiện nay, hoa hòe đã được bào chế thành dạng thuốc viên, hàm lượng 0,02g, dùng riêng hoặc phối hợp với vitamin C 0,05 (viên rutin - C). Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1-2 viên. Trên thị trường thế giới còn có loại thuốc tiêm ru tin tan - được gọi là Solurutin để tiêm bắp hoặc tiêm tĩnh mạch khi cần thiết. Hòe nếp chứa nhiều ru tin hơn hòe tẻ. Qua chế biến, hàm lượng rutin có thể thay đổi: 34,7% ở dạng sống, 28,9% ở dạng sao vàng và 18,5% ở dạng sao cháy. Ngoài ra, hòe mễ còn chứa betulin, sophorađiol, sophorin A, B, C và sophorose.

Lưu ý: Hoa hoè dùng làm thuốc phải là hoa chưa nở.

Người ta thường thu hái hòe mễ làm hai vụ: vụ mùa từ tháng 4 đến tháng 9, năng suất thu hoạch cao, hàm lượng hoạt chất không bằng vụ chiêm; vụ chiêm từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau, năng suất thu hoạch thấp, hàm lượng hoạt chất cao. Theo kinh nghiệm của nhân dân, nên hái nụ hoa có màu vàng lục vào buổi sáng, rồi phơi nắng nhẹ và sao qua cho khô để bảo đảm màu sắc và chất lượng. Chọn những chùm hoa có 5-10 bông nở để thu hoạch là tốt nhất. Nếu thu hoạch quá sớm thì hàm lượng hoạt chất hình thành thấp; còn nếu để muộn, năng suất dược liệu không cao và hàm lượng hoạt chất giảm.

Hoa hoè thường được sao khô, để pha uống như nước trà.

Các bài thuốc từ hoa hoè:

Hoa hòe có thể kết hợp với hạ khô thảo, xuyên khung, địa long, cúc hoa, câu đằng chữa tăng huyết áp; kết hợp với trắc bá diệp, chỉ xác, chữa đại tiện ra máu; kết hợp với bách thảo sương, chữa khí hư; kết hợp vói kim ngân hoa, chữa viêm loét, mụn nhọt...

Hoè mễ là một vị thuốc "mát" được dùng trong những trường hợp "nhiệt", chữa trị tăng huyết áp. Hoè mễ có thể dừng riêng với liều 8-16g, sắc để uống trong ngày hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Dùng làm thuốc cầm máu hoặc chữa bệnh ho ra máu, đổ máu cam, tiểu tiện ra huyết, ruột chảy máu: ngày uống 5-20g dưới dạng thuốc sắc.

Người cao tuổi bị tăng huyết áp, dùng hòe mễ rất tốt, vừa có tác dụng làm bền chắc thành mao mạch, chống hiện tượng phình vỡ, xuất huyết.

Hoa hòe, tang ký sinh, mỗi thứ 25g, hạ khô thảo, cúc hoa, thảo quyết minh, mỗi thứ 20g; xuyên khung, địa long mỗi thứ 15g, sắc uống. Nếu xơ vữa động mạch, thêm 20g trạch tả. Nếu mất ngủ, thêm 15g toan táo nhân sao, 25g dạ giao đằng. Nếu đau ngực, thêm 20g đan sâm, 25g qua lâu nhân. Nếu có cơn đau thắt ngực, thêm 12g huyền hồ sách, 20g phật thủ, 7,5g bột tam thất. Nếu bị di chứng tai biến mạch não 25g, thêm ngưu bàng tử, 30g câu đằng.

Hoặc áp dụng bài thuốc sau: hoa hòe, sung úy tử mỗi thứ 15g, 30g cát căn, sắc lấy nước uống. Nếu đau tức ngực, thêm đan sâm, hà thủ ô, mỗi thứ 30g. Nếu bị hồi hộp, hông ngực và mất ngủ thì thêm 15g toan táo nhân. Tê tay chân, thêm 30g sơn tra, 10g địa long. Nếu bị đi tiểu đêm nhiều lần, thêm 10g sơn thù, 15g nhục dung.

Các bài thuốc chữa đại tiện ra máu: (1) Hoa hòe sao, uất kim, mỗi thứ 30g, tán bột, uống mỗi lần 6g. (2) Hoa hòe, quả hòe, hoạt thạch, mỗi thứ 15g; sinh địa, kim ngân hoa, đương quy mỗi thứ 12g; hoàng cầm, hoàng liên, hoàng bá mỗi thứ 10g; thăng ma, sài hồ, chỉ xác, mỗi thứ 6g và 3g cam thảo, sắc lấy nước uống. Nếu chảy máu nhiều, thêm 10g kinh giới; địa du, trắc bá diệp, mỗi thứ 15g sao đen. Thể trạng hư yếu thì thêm đẳng sâm, hoàng kỳ, hoài sơn mỗi thứ 15g. Thiếu máu nhiều, thêm 15g hoàng kỳ, 12g thục địa. (3) Hoa hòe, trắc bá diệp, kinh giới tuệ và chỉ xác lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm. (4) 60g hoa hòe; địa du, thương truật, mỗi thứ 45g, 30g cam thảo, sao thơm sây khô, tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 6g.

Chữa chứng rong kinh, băng huyết, khí hư: 30g hoa hòe lâu năm, 15g bách thảo sương, tán bột, uống mỗi lần 9-12g với rượu ấm.

Chữa bạch đới (khí hư màu trắng): hoa hòe sao, mẫu lệ dung, lượng bằng nhau, tán bột, uống mỗi lần 9g với rượu ấm.

Chữa chảy máu mũi: hoa hòe và ô tặc cốt, lượng bằng nhau, nửa sống nửa sao, tán bột, mỗi lần lấy một ít thổi vào lỗ mũi.

Chữa chứng viêm loét: hoa hòe, kim ngân hoa, mỗi thứ 15g, sắc với 2 bát rượu, uống cho ra mồ hôi. Nếu bị tổn thương viêm loét về mùa hạ, có thể dùng 60g hoa hòe sắc đặc rồi dùng bông thấm dịch thuốc bôi lên nơi bị bệnh nhiều lần trong ngày.

Chữa tổn thương gân trong giai đoạn cấp tính, sưng nề, đau: 18g hoa hòe, 15g hạt bí xanh, 15g sơn trà, cho thêm nước đun sôi 5 phút, bỏ bã lấy nước, hãm trà uống.

Lưu ý: hoa hòe tính hơi lạnh, nên những người tỳ vị hư hàn (hay đau bụng do lạnh, thích chườm nóng, ăn kém, chậm tiêu, đại tiện thường xuyên lỏng nát) không được dùng vị thuốc này. Nếu cần dùng, phải phối hợp với các dược liệu có tính ấm nóng.

Hòe giác: quả vị đắng, tính hàn. Quả có tính chất gần giống hoa, nhưng phụ nữ có thai không được dùng hòe giác vì dễ bị sảy thai. Hoè giác được thu hoạch khi quả hòe chín, lấy hạt đem trồng, còn vỏ quả phơi hoặc sấy khô. Hoè giác có mặt ngoài nhăn nheo, màu đen nâu, vị đắng, tính hàn, cũng chứa rutin với hàm lượng 4,3%, flavonoid toàn phần 10,5% và một số dẫn chất như genistein, sophoricosiđ, sophorabiosid, kaempferol glycosid C.

Hòe giác để sống, uống mỗi ngày 10g dưới dạng nước sắc, chữa sốt xuất huyết khi sốt đã lui nhưng còn xuất huyết nhẹ, chảy máu dưới da, trẻ em chảy máu cam, chảy máu chân răng. Nếu đem sao tồn tính, rồi hãm hoặc sắc uống, hòe giác còn có tác dụng chữa đại tiện ra máu.

Theo Nam dược thân hiệu muốn chữa bệnh trĩ sưng đau: lấy hòe giác và hòe tử (hạt hòe chín già) tán bột, trộn với tiết dê tươi, làm thành bánh, phơi khô, mỗi lần uống 8g với rượu cúc hoa vàng vào lúc đói.

Để chữa trị nội và viêm ruột, lấy 100g hòe giác, 100g kim ngân hoa, 12g cam thảo dây, 10g nghệ vàng. Cách làm: sao kỹ hòe giác cho đến khi có màu tím sẫm, tán bột; các dược liệu khác phơi khô, tán bột. Trộn đều hai loại bột với nhau. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 8g vào lúc đói.

Chữa lòi dom: hòe giác và khổ sâm, lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, hòa với nước cho sền sệt, rồi bôi vào vết thương.

Chữa hòn dái sưng đau: hòe tử sao, tán bột 4g trộn với lg muối rồi uống với ít rượu đã hâm nóng vào lúc đói (theo Nam dược thần hiệu).

Chữa băng lâm hạ huyết (chứng ra máu nhiều ở phụ nữ); lấy 250g hòe tử tẩm rượu sao, 125g đan sâm tẩm giấm sao, 60g hương phụ ngâm với nước tiểu trẻ em rồi sao. Tất cả nghiền thành bột, làm viên bằng hạt đỗ xanh. Mỗi sáng uống 15g với nước cháo.


Tags: Hoa hòe, Các loại hoa,

Loading...

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan