Ngưu Tất và công dụng chữa bệnh trong Đông y

974 04/10/2018
Dadaypqa.com - Ngưu tất vị đắng, chua, tính bình. Chủ trị các chứng tê liệt, co cơ, không có sức lực do hàn thấp gây ra. Các chứng bệnh do phong thấp như chân tay đau nhức, tê bì, chuột rút, đầu gối đau nhức khó co duỗi; ...

NGƯU TẤT

Ngưu tất và công dụng chữa bệnh

Giải thích tên gọi Ngưu tất

Ngưu tất thuộc họ rau rền, là loại thực vật thân cỏ sống lâu năm. Dựa vào môi trường sinh sống khác nhau, có thể chia thành các loại: Hoài Ngưu tất, xuyên ngưu tất. Trong đó, hoài ngưu tất là nổi tiếng nhất, có nhiều ở Hà Nam, được gọi là một trong: "Tứ đại hoài dược".

Bản kinh có viết: Ngưu tất vị đắng, chua, tính bình. Chủ trị các chứng tê liệt, co cơ, không có sức lực do hàn thấp gây ra. Các chứng bệnh do phong thấp như chân tay đau nhức, tê bì, chuột rút, đầu gối đau nhức khó co duỗi; hoạt huyết hóa tứ, thanh nhiệt trong máu, trị ung nhọt, phù thũng do nhiệt nóng, vết bỏng bị nhiễm trùng dẫn đến mưng mủ. Mặt khác, còn có thể hạ huyết khí dẫn đến sảy thai, vậy nên đặc biệt chú ý dùng cho phụ nữ có thai. Ngưu tất dùng lâu ngày có thể giúp cơ thể nhanh nhẹn, giảm quá trình lão hóa.

Đông y cho rằng: Ngưu tất có khả năng dẫn máu từ trên xuống dưới, đi thẳng vào can, thận kinh, có tác dụng ngăn ngừa máu ứ trệ, thông kinh mạch; cũng có thể bổ gan, thạn, mạnh gân cốt. Bản kinh chủ yếu nói về công hiệu của ngưu tất đã được đề cập ở trên.

Trong Bản thảo cương mục giới thiệu tường tận về công hiệu trên 2 phương diện này. Lý Thời Trân cho rằng: Ngưu tất do nguyên khí, trị liệt dương, người già đi tiểu són; có thể cường gân tráng cốt, trị các loại tổn thương gân cốt, lưng gối đau mỏi không có lực, ích tinh, bổ tủy, trị chứng tóc bạc sớm, đau lưng, đau nhức xương khớp. Ngưu tất còn chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh, tiêu trừ chứng tắc nghẽn máu, kết khối rắn ổ bụng; trị đau vùng ngực, bụng hoặc xuất huyết nhiều sau sinh, loại bỏ thai chết lưu, trị các bệnh liên quan đến hệ thống đường tiết niệu (tiểu ra máu, tiểu buốt... ), bệnh lỵ, sưng đau họng..., đau răng sưng lợi, miệng lưỡi có vết loét và các loại mụn nhọt (cấp tính, mạn tính, viêm kèm theo mủ) lâu ngày không khỏi.

Trên ứng dụng lâm sàng, ngưu tất có 2 cách sử dụng đó là dùng tươi và chế rượu. Dùng tươi chủ yếu là để tiêu tán nghẽn máu, thông kinh mạch; chế rượu chủ yếu dùng để bổ gan, thận, mạnh gân cốt. Ngoài ra, ngưu tất còn chia ra 2 loại đó là xuyên ngưu tất và hoài ngưu tất. Xuyên ngưu tất thích hợp chữa các chứng bệnh của người già. Hoài ngưu tất thích hợp chữa các bệnh ở người trẻ tuổi. Do ngưu tất có đặc tính vận chuyển máu xuốhg dưới, có thể làm trụy thai. Vì vậy, trong khi sử dụng cần phải thận trọng, người bị tỳ hư, tiêu chảy, mộng tinh, di tinh, phụ nữ kinh nguyệt ra nhiều và phụ nữ đang mang thai tuyệt đối không được dùng.

Công dụng trị bệnh của Ngưu tất

Trị tóc bạc sớm.

Trị sưng đâu họng, đau răng, sưng lợi, miệng lưỡi có vết loét và các loại mụn nhọt lâu ngày không khỏi.

Bổ gan, thận, mạnh gân cốt.

Trị các bệnh liên quan đến hệ thống đường tiết niệu, liệt dương, người già đi tiểu són.

Trị gân cốt bị thương tổn, lưng đầu gối yếu, sợ lạnh, sống lưng đau.

Phương thuốc trị liệu của Ngưu tất

Trị chứng tiêu khát, hạ nguyên hư tổn

Lấy 156g ngưu tất, tán nhỏ, ngâm trong 5 lít nước ép địa hoàng tươi, ngày phơi, tối ngâm, cho đến khi khô. Dùng mật ong nặn thành viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 30 viên, uông lúc đói với rượu ấm, dùng lâu ngày rất tốt cho cơ thể.

Trị bệnh đi tiểu ra máu sau khi sinh

Lấy xuyên ngưu tất sắc với nước, uống hàng ngày.

Trị bệnh miệng, lưỡi lở loét.

Ngưu tất ngâm với rượu rồi súc miệng, hoặc có thể sắc lên để uống.

Trị đau răng

Ngưu tất nghiền nhỏ, ngậm rồi súc miệng. Cũng có thể đốt ngưu tất thành than rồi bôi lên chỗ đau.

Trị kinh nguyệt không đều, khí huyết không điều hòa sau khi sinh, kết u trong bụng

Ngưu tất ngâm trong rượu 1 đêm. sao khô lấy 31g ngưu tất nghiền nhỏ. cho thêm 1l nước ép địa hoàng tươi, đun nhỏ lửa tới khi thành dạng keo đặc, nặn thành viên bằng hạt ngô. Mỗi lần dùng 3 viên, uống cùng với cháo loãng khi đói.

Trị nhiệt miệng

Rễ cây ngưu tất đã bỏ vỏ, chấm vào vết loét ở trong miệng, chừa nửa tấc ở phía ngoài. Sau đó dùng lá quất non và địa cẩm thảo, mỗi loại một nắm, giã nát bôi lên chỗ lở loét.

Nguồn: Thần Nông bản thảo kinh

Tags: Bổ gan, thận, mạnh gân cốt, cây thuốc, ngưu tất,

Loading...

Bạn cần tư vấn






Bài liên quan